1- HKMT: Thời Thơ Ấu

Bối Cảnh Thời Cuộc

Tôi chào đời năm 1955 trong thời kỳ chiến tranh Việt Pháp vừa chấm dứt, dẫn đến sự chia đôi đất nước và sự thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam.
Tháng 7 năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn, vị chỉ huy Bình Xuyên đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải có danh sách thành phần nội các mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955. Nội các Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ Tổng Tham Mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Tháng 4 năm 1955, quân Bình Xuyên tấn công thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu ở khu vực cầu Chữ Y.
Và đó là thời gian tôi cất tiếng khóc chào đời tai đường Tháp Mười Chợ Lớn giữa lúc chiến tranh đang diễn ra với súng nổ đạn bay và lửa cháy ngập trời. Bà ngoại tôi dưới quê đã phải đi bộ cả đêm từ Long An, phía đông bắc của vàm sông Nhật Tảo khoảng 30 km (quê bên sông Vàm Cỏ Đông), lên Chợ Lớn để đón con gái và cháu ngoại mới sanh chỉ hai ngày chạy về quê để tránh bom đạn. Sau này khi nghe kể lại, tôi thấy xót thương nhiều cho tuổi thơ, những em bé Việt Nam dưới thời loạn lạc, dù là mới hai ngày tuổi như tôi cũng đã trải qua những tai ương.
Thế hệ Cha Ông chúng ta tuy làm việc vất vả mà gia đình nào cũng con cháu đầy đàn. Tôi là con thứ trong gia đình có tám đứa con, gồm ba người chị, một anh và một em trai, cộng với hai em gái.
Ba tôi sống tại Chợ Lớn để tiện việc điều khiển hãng xe đò của ông nên thường vắng nhà, Má tôi phải gởi hai anh em tôi về quê Nội tại làng Long Cang trong khi Má tôi ở lại làng Phước Vân là quê Ngoại. Tuy hai nơi chỉ cách nhau có mấy dặm đường, nhưng với tôi thưở đó như là tôi đang ở rất xa Má và các chị.

Long Cang – Quê Tôi

nhaNoi-01
Từ nhiều đời, ông bà Sơ và ông bà Cố của tôi đã sinh sống tại xóm Cây Mắm, xóm Đình làng Long Cang sát bên sông Vàm Cỏ. Phía nam giáp ranh với ấp Ba, xa hơn một quãng là vàm sông Nhật Tảo, địa danh của vùng Lá Tối Trời mà anh hùng Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy chiếc tàu Esperance của Pháp chìm xuống tận đáy sông.
Nhiều năm giặc giã nổi lên, nhà cửa bị đốt cháy bao phen, đến đời ông Nội tôi mới dời nhà ra mặt lộ chánh, sát bên ngã ba Long Cang thuộc ấp Nhứt, nối liền với xã Long Định và đi thẳng ngay ngã ba thì gặp xã Long Hiệp. Ngày nay ngôi nhà cũ vẫn còn đó, vẫn ngôi nhà xưa với mái ngói xanh rêu mốc và đặc biệt nhất là ngay giữa sân phía trước nhà vẫn còn cái bàn Thiên. Ông Nội tôi thường sai tôi ra đó đốt nhang lúc ban đêm trời tối đen thui làm tôi sợ hãi. Tôi vừa cắm cây nhang lên bàn Thiên vừa hướng mắt về phía rất xa cuối chân trời, nơi có những ánh đèn rực sáng mà tôi biết đó là Sài Gòn. Sài Gòn, Sài Gòn! Tuổi thơ tôi nghĩ đó là một giấc mơ mà tôi tưởng đâu suốt đời sẽ không bao giờ được thấy.
Ngay ngã ba Long Cang, tôi đã chứng kiến bao cảnh tang tóc của chiến tranh, người chết, đường xá bị đấp mô, bờ lộ bị đào xới thành những giao thông hào để chống chiến xa trong thời kỳ xôi đậu 1960-1964. Ngay từ tuổi thiếu nhi lên tám, tôi cũng phụ giúp người lớn trong công việc đào đường và bơi xới mỗi đêm theo lời xúi buộc của cán bộ Việt Cộng mà họ tự gọi là “Cách Mạng”. Họ kêu gọi mọi người hưởng ứng phong trào nhân dân chống chiến Xa M113 và Chống Mỹ cứu nước.
Than ôi! Giờ đây nhớ lại những giây phút kinh hoàng đó, tôi còn sợ hãi vì những nỗi ám ảnh và đau đớn của chiến tranh mà để những đứa nhỏ như chúng tôi phải mất mát hết sự ngây thơ, trong sáng.

Đời Sống Dưới Quê

My Grand Farher Bas Relief 1980My Grand Mother Bas Relief 1980Tôi được ông bà Nội nuôi dưõng từ năm tôi lên hai tuổi. Thời gian chỉ 8 năm trời, nhưng trong 8 năm đó tuổi thơ tôi như đã là khởi điểm cho nhiều mơ ước. Những đêm trăng sáng hay những buổi chiều tà với mùi thơm của làn khói chiều bốc lên từ cánh đồng sau nhà, khi tôi rộn rã tung tăng với cánh diều bay vút cao trong gió, những con diều mà ông Nội đã chịu khó ngồi chỉ cách cho tôi vuốt từ thân tre để làm khung, dùng cơm nguội dán từng miếng giấy báo ghép vào nhau….
Ngày đầu tiên đến trưòng lúc 6 tuổi, tôi còn nhớ rõ tôi được ông tôi đưa đến trường, ăn một ổ bánh mì thịt trước khi vào học lớp 5 (lớp 1 bây gìờ), học các mẫu tự ABC đầu tiên trong cuộc đời tại ngôi trường làng Long Cang.
Mỗi ngày sau khi tôi đi học về, ông tôi còn dạy thêm cho tôi về cách làm vườn, phụ giúp ông trồng cây ăn trái. Ông tôi chăm chút vườn xoài kỹ lưỡng nên trái ra rất nhiều. Đây là huê lợi lớn cho gia đình. Nhưng tôi nghĩ ông coi sóc vườn như chăm sóc những đứa con với tất cả sự nâng niu trìu mến. Ông hạnh phúc sung sướng khi nhìn thấy công khó của ông được đền đáp là những trái chín nặng trĩu đầy vườn. Sau này, vì mục đích khai quang muốn triệt hạ nơi ẩn núp của du kích Việt Cộng, chính quyền địa phương của phe Quốc Gia đã ra lệnh bắt ông tôi phải đốn bớt hết cả trăm cây xoài. Có thể đó là lý do khiến cho ông tôi buồn đến sanh bịnh rồi chết không lâu sau đó. Những giọt nước mắt của ông Nội tôi chảy xuống tiếc nuối xót thương cho vườn xoài đã ám ảnh tôi suốt thời thơ ấu cho đến bây giờ.
Khi mùa mưa tới nước ngập tràn cánh đồng ruộng mênh mông, cả làng chuẩn bị cho mùa gieo hạt mạ non để cấy lúa. Mùa mưa cũng là mùa tôm cá, cá đồng, tôm, tép không thế nào ăn cho hết. Tôi còn có trách nhiệm ông Nội giao cho là đi cắm câu. Lội chân không bì bõm dưới ruộng đồng, tôi đặt cắm câu qua đêm, sáng hôm sau trở lại, tôi vui mừng gỡ ra nhiều tôm cá.
Từ những tối đi cắm câu này tôi tìm ra được một loại đất đặc biệt từ con “chèng heng” đùn lên ở mé sông rất mềm và dẻo. Tôi dùng nó để nắn những đồ chơi cho riêng mình như xe hơi, trái xoài, trái mận và môt số con vật tôi thấy hàng ngày như con trâu, con cá. Phải chăng sự say mê đất “chèng heng” này đã như một báo trước cho định mệnh của cuộc đời để đi vào con đường nghê thuật.
Tôi nắn rất nhiều tượng nho nhỏ như vậy, đem phơi nắng cho khô và sau đó ngắm nghía một cách thoả thích. Tôi cũng nhớ môn thủ công đầu tiên trong đời, tôi nắn tượng trái xoài và được thày giáo khen tặng hết lời như một sự  khích lệ tinh thần.
Không những tôi chỉ thích nắn tượng để tự làm ra đồ chơi mà tôi còn say sưa chiêm ngưỡng một bức tranh sơn thủy trên bàn thờ. Mỗi tháng ông tôi sai bảo tôi lau chùi mặt kiếng của bức tranh cho sạch sẽ, tôi thổi bụi phù phù mà tâm hồn lúc đó mơ màng theo núi non trùng điệp của bức tranh. Tôi còn tưởng tượng ra một ngày nào đó mình sẽ được đứng thả diều trên ngọn núi xa vời kia.
Năm 1962, tình hình sôi đông trở lại do các đảng phái, tôn giáo muốn lật đổ Chế độ Ngô đình Diệm, thời gian này cũng là lúc tôi hiểu một chút về chiến tranh. Bảy tuổi, tôi đã phải chứng kiến trong sự sợ hãi cảnh xác chết ngoài đường hoặc trôi dật dờ trên sông. Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại, và thời đệ nhất VNCH bị cáo chung, bắt đẩu cho một vận mệnh mới kể từ ngày 1-11-1963. Lúc bấy gìờ tôi đã đựơc 8 tuổi; ông bà Nội tôi tản cư lên Sài Gòn và mang anh em tôi theo.

Thời Gian ở Sài Gòn

Ngày đầu tiên lên chốn đô thị, bà Nội dẫn tôi vào khu chợ Bình Tây. Cảnh sinh hoạt náo nhiệt ồn ào của chợ búa đô thành quá khác biệt so với lối sống êm ả dưới quê khiến cho tôi thấy cái gì cũng mới cũng mới lạ. Nắm tay bà Nội hoài cũng mỏi, tôi buông ra để được tự do nhìn ngắm. Bỗng như bị thu hút, tôi dừng chân không thể đi tiếp khi nhìn thấy một bức tượng đồng đen. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng tôi cũng đoán chắc đó là bức tượng một nhân vật nào quan trọng lắm đây. Tôi mải mê nhìn bức tượng đến nỗi lạc luôn bà Nội, đến khi tìm ra tôi đang đứng ngẩn ngơ trước bức tượng đồng, bà la cho tôi một trận. Sau này tôi được biết đó là tượng ông Thôn Hiệp, còn được gọi là Chú Hỏa.
Ngày tháng trôi qua, cô Năm tôi cũng đã tạo dựng được một cơ sở làm ăn ở Chợ Lớn, cho nên tôi được cô tôi dẫn đi chỗ này chỗ nọ tại khu Chợ Lớn mới. Lần đầu tiên trong đời, tôi được ngồi trên chiếc xe xích lô máy ngắm phố phường tấp nập. Tôi được ngồi cùng bà Nội và cô Năm tôi ăn hàng. Ly sâm bổ lượng lần đầu tiên tôi được ăn và tô hủ tiếu giò cháo quảy mà cô Năm tôi gọi cho tôi ăn cũng là những món ăn xa lạ trong đời.
Nhớ cảnh cũ người xưa nơi quê nhà, tôi mông lung suy nghĩ tới buổi loạn lạc phải rời quê hương đến một vùng đất lạ.HKMY-thoinienthieu-01
Mẹ tôi thì vẫn ở bên quê Ngoại tôi để trông nom những đứa em kế tôi trong gia dình.
Những ngày tháng thơ ấu sống bên ông bà Nội, có lẽ tôi nhớ nhất những buổi lễ đình làng như hội lễ Kỳ Yên. Tôi được xem những nghi lễ của việc cúng bái vì ông Nội tôi luôn mang tôi đi theo và cho ngồi bên cạnh. Với chức vụ trưởng tộc và với dáng vẻ uy nghi, ông Nội tôi được ban cúng tế trân trọng mời lên trước bàn thờ để thắp hai ngọn nến và một nắm nhang. Ông là người được vinh dự đầu tiên ban lễ nên mọi người đều gọi ông tôi là ông “chánh bái”. Ông là người đã ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tuổi thơ của tôi. Ngay thời gian tôi trưởng thành và ngay cả bây giờ khi ở tuổi 60, tôi càng nhận ra mình được học hỏi từ ông Nội rất nhiều, nhất là về Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín.
Sau khi ổn định cuộc sống, tất cả anh chị em tôi và gia đình lên Sài Gòn định cư tại khu Bàn Cờ. Ông bà Nội tôi dọn ra nhà riêng tại khu Cầu Tre, Bình Thới vùng ngoại ô, phía bắc của Tân Hoà Đông (Phú Lâm). Nơi đây, ông bà Nội tôi sống những tháng ngày buồn rầu vì thương nhớ quê hương làng mạc, vườn xoài nặng trĩu trái, cánh đồng lúa xanh tươi bạt ngàn, những khóm tre xanh, và ngay cả tiếng gà gáy mỗi khi trời hừng sáng.
Từ khi gia đình lên Sài Gòn ở khu Bàn Cờ, má tôi đã bắt dầu một cuộc sống mới, một thân một mình lo cho đàn con, không một chút nhờ vả vào ba tôi về kinh tế. Tôi được chị Ba tôi dẫn đến trường tiểu học Bàn Cờ trong khuôn viên cư xá Đô Thành để ghi tên học.
Cô giáo sắp tôi ngồi phía sau gần cửa sổ gần chót lớp với lý do là dáng tôi cao ráo nên có thể nhìn xa lên bảng đen. Tôi được ngồi cạnh Minh, bạn bè goi là Minh móm vì răng sún mấy cái phía trước. Anh chàng này cũng cao ráo và ốm nhom ốm nhách. Mỗi ngày tôi quan sát anh ta chỉ lo ngúy ngoáy vẽ và cho tôi xem một số sách hình với những bản vẽ cọp pi lại của nó. Thì ra tôi lại được xếp ngồi bên cạnh một tay thích vẽ vời.
Tôi được Minh cho xem những nét vẽ điêu luyện của hắn. Các đề tài từ những bộ phim chưởng, kiếm hiệp thời đó đều đưọc Minh vẽ ra trên mặt giấy mà khi xem, tôi rất lấy làm ngưỡng phục. Thỉnh thoảng hai đứa tôi rủ nhau đi xem ciné những phim chưởng hoặc Tarzan tại rạp hát Đại Đồng ngay góc đường Cao Thắng và Phan thanh Giản cũ, đối diện Chợ 20. Những lúc đó tôi nghĩ rằng chính mình cũng có thể vẽ được, nhưng vì ngại bạn bè bên cạnh, tôi chưa dám thố lộ.
Có những buổi sau khi đi học về, tôi thường lang thang đến các rạp hát vào ngày Thứ Ba trong tuần, trước khi các hoạ sĩ thay phông hình mới để trưng trước rạp, tôi nhìn mấy anh lưng cởi trần xịt nước rửa phông cũ và bắt đầu vẽ đề tài và nội dung cho một phim khác. Những giây phút đó, tôi cố gắng theo dõi để xem họ bắt đầu như thế nào và sau khi hoàn thành sẽ ra sao. Tôi đã học lóm một số kỹ thuật và chất liệu để vẽ màu bột trên phông vải.
Đối diện với Cư Xá Đô Thành, họa sĩ Mai Lân có mở một xưởng vẽ ngay mặt đường Phan thanh Giản, cách Bịnh Viện Bình Dân khoảng nửa cây số. Mỗi lần đi học về, tôi thường đứng lại thập thò trước cửa, say mê ngó cách ông nặn tượng Phật hoặc vẽ những bức tranh quảng cáo.