2- HKMT: Vào Trường Trung Học Petrus Ký 1967- 1968

truongPTKYSau khi có kết quả tôi thi đậu vào trường Petrus ký, toàn gia đình tôi rất vui và hãnh diện. Tôi nhìn ra được niềm kiêu hãnh và mãn nguyện trong đôi mắt của Má mà lòng đầy vui sướng, và vì tôi là người đầu tiên trong dòng họ được đậu vào học một trường nổi tiếng mà đa số là người miền Nam.

PTT-39

(trái: hình thẻ học sinh Petrus Ký)

Sau khi tôi vào lớp đệ thất (lớp 6) trường Petrus Ký, sự học hành của tôi cũng không giỏi dang cho lắm, chỉ đứng vào hạng trung bình. Trong tất cả các môn, tôi chỉ thích môn văn chương thi phú. Mỗi khi thầy giáo đọc những bài thơ của Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan hoặc bình luận những áng văn kim cổ, hồn tôi đắm chìm và phiêu dạt tận đâu đâu.
Môn vẽ là sở trường nên tôi thường được nhất nhì lớp, bởi vậy với môn lịch sử Việt Nam, khi giáo sư thao thao giảng rất hiện thực về những trận đánh oai hùng của các vị Tướng trong thời kỳ Bắc thuộc như Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng hoặc Lê Lợi, Quang Trung, hiển hiện ra trước mắt tôi là cảnh trận mạc với tiếng ngựa hí vang rền cùng với tiếng thúc quân của các vị anh hùng vua chúa xa xưa. Tuy tuổi còn rất nhỏ mà tôi đã mong muốn một ngày nào đó, tôi sẽ sáng tác điêu khắc dựa theo những trang sử oai hùng của dân tộc.
Giáo sư Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba dạy môn âm nhạc, có lúc thầy dạy hát những bản nhạc dân ca đượm tình quê hương dân tộc. Có khi ông mang đàn tranh, đàn tỳ bà và ngay cả đàn violon để biểu diễn cho chúng tôi nghe những tiết tấu của âm nhạc dân gian. Có khi thầy dùng năm ngón tay gõ xuống mặt bàn thành tiếng vó ngựa chạy từ xa đến gần, nghe qua thật thú vị.
Tôi biết chính mình có năng khiếu về môn vẽ nên một hôm được nghe giáo sư hội họa là Đặng Công Hầu nói với đám học trò chúng tôi về trường Mỹ Thuật Gia Định, từ đó tôi nhập tâm và tò mò muốn đi tìm hiểu.
Rồi những năm học kế tiếp ở trường Petrus Ký tôi đã không khá gì hơn, lại còn lo đi học thêm ở ngoài lớp đêm về Hội Họa và những ngày cuối tuần tại Hội Việt Mỹ hoặc Trung Tâm Văn Hoá Pháp thay vì ở nhà làm toán, học bài. Những món tiền nhỏ để ăn sáng hay xài vặt tôi đã dùng hết cho việc mua màu mua giấy và bút vẽ. Má tôi rầy la khuyên bảo hoài không được bèn tức giận ra lệnh cho chị tôi quăng hết những “tác phẩm đầu đời” của tôi lên gác bếp hoặc giấu đi biệt tăm. Tôi chỉ còn biết khóc la giận dữ, bây giờ tôi thèm xiết bao được xem lại những nét vẽ ngây ngô thuở thiếu thời!
Duy nhất có một người cùng xóm chợ Bàn Cờ nơi tôi ở , thường  để ý và ghé mắt xem , khen ngợi và khuyến khích những “tác phẩm đầu đời ” của tôi , đó là  nhà soạn kịch kiêm soạn giả Nguyễn Phương. nguyenphuong Sau những buổi chợ tan, Ông thường đi bộ với quần áo rất chỉnh tề, trầm tư với ống điếu trên môi để tìm hứng sáng tác , mà thực ra còn tìm đâu cho xa, cái xóm lao động ngay chợ Bàn Cờ của chúng tôi, tự nó đã là một sân khấu rất lớn, với đầy đủ những hỉ, nộ, ái, ố đúng nghĩa của một xóm chợ …   Mỗi khi đi ngang qua nhà Ông thấy tôi ở trần, ngồi khum lưng loay hoay bên tấm canvas dựa trên những bao gạo chất gần tới nóc . Vì nơi ở và cũng là cửa hàng buôn bán chật chội của gia đình, nên tôi phải tìm chỗ để bày màu, bày cọ …

(hình bên) Soạn giả Nguyễn Phương và Điêu Khắc Gia Phạm thế Trung – Montreal, Canada 2010

Soạn giả Nguyễn Phương đã viết nhiều vở tuồng cải lương  nổi tiếng cho những đoàn hát lớn trong thành phố Saigon lúc bấy giờ như tuồng: Bọt Biển,  Đôi Mắt Người Xưa … Thỉnh thoảng có một số nghệ sĩ sân khấu đến nhà ông, làm cho cả xóm của chúng tôi trở nên rộn rã hơn vì tính hiếu  kỳ của những người  ngưỡng mộ!
Ba tôi ít khi ở nhà. Ông đi sáng về tối lại có vợ nhỏ. Má tôi buồn phiền nên thường rất cau có khó chịu với con cái. Bởi vậy trong ba tháng hè, thay vì ở nhà để vui chơi và san sẻ tình yêu thương ấm áp với gia đình, tôi lại nghĩ đến cách lang thang kiếm tiền. Tôi mua một thùng đựng cà rem và cái chuông lắc leng keng. Tôi bắt đầu đi bán cà rem dạo trên chiếc xe đạp cũ. Tôi đạp cả ngày dài khắp các nẻo đường Chợ Lớn Phú Lâm, Phú Thọ Hoà. Mỗi buổi chiều khi tôi về đến nhà thì chân tay tôi cũng đã mỏi rã rời. Bù lại, tôi cảm thấy tự hào vì mình đã tự túc chút ít cho chính mình thay vì nhờ vả quá nhiều vào Má.
Tết Mậu Thân 1968 là cái mốc của một cuộc chiến kinh hoàng ngay tại thủ đô Sài Gòn. Trước đó, chiến tranh chỉ như một sự thuật lại trên truyền thanh, truyền hình và báo chí, bây giờ dân cư Sài Gòn chứng kiến tận mắt cảnh người chết và cảnh nhà cửa hoang tàn đổ nát. Gia đình tôi cũng không là một ngoại lệ, ông bà Nội và tất cả con cháu tưởng rằng sẽ chẳng còn nơi nào nữa để trốn chạy chiến tranh, sau khi đã phải bỏ hết những công trình gây dựng dưới làng quê, lên Sài Gòn thì bom đạn lại đang ngập tràn. Nhưng sau khi Quân đội VNCH chống trả và ổn định lại được tình hình, Sài Gòn đã tạm êm và một số dân đã tản cư lại quay trở về nhà cũ, dù nhiều nơi nay chỉ còn là những đống gạch vụn đổ nát.
Sau một thời gian ngắn, chính phủ VNCH lập tức thực hiện chương trình tái thiết, xây dựng một số chung cư cho những thường dân đã bị mất nhà trong cuộc chiến Tết Mậu Thân. Một trong số những chung cư đó là Chung Cư Nguyễn Thiện Thuật bên kia đường đối diên với chợ Bàn Cờ. Tôi thường lân la tìm tới đứng nhìn xem các bác thợ mộc cưa xẻ, các chú thợ hồ xây xây dựng dựng tới lui riết rồi tôi bèn xin đi làm thợ hồ!
Với một đứa trẻ mười bốn tuổi, mùa hè là mùa của vui chơi thanh thản, mà tôi lại còng lưng đẩy xà bần trên chiếc xe cút kít (xe rùa) dưới cái nắng chang chang của Sài Gòn, sức nặng của xe rùa đầy bê tông xà bần hòa với sức nóng khủng khiếp đã cho tôi hiểu ra thế nào là những khó khăn khổ nhọc để đổi được đồng tiền! Tôi lén gia đình đi làm để tìm tiền mua khung, vải và màu vẽ kiểu này, nghĩ lại thấy mình tự đày đọa tấm thân một cách khờ khạo và quá đáng!
Ở xóm Cầu Tre một thời gian, ông tôi luôn thở than vì quá tù túng ngột ngạt nơi thành thị. Ông nhớ làng quê, những con đường mòn, ao làng đầy tôm cá, ruộng lúa phì nhiêu và nhất là vườn xoài ngàn ngàn trái chín đã bị đốn sạch. Nhưng làm thế nào để trở lại quê xưa?
Phải chăng những nhớ thương về làng xưa vườn cũ đã làm cho sức khỏe ông tôi ngày càng hao mòn? Là một đứa cháu nhỏ, tôi chỉ còn biết buồn vui cùng ông chứ không biết gì khác. Rất tiếc là lúc đó tôi chưa biết nói một lời nào để tỏ ra lòng yêu mến của mình với ông Nội dù trong lòng thì ngập tràn tình thương. Cho đến một hôm ông tôi ngã bệnh rồi đột ngột qua đời tại xóm Cầu Tre. Tôi đã nằm bên ông Nội tôi suốt đêm đầu tiên khi ông mất. Tôi khóc tỉ tê suốt cả tuần bởi niềm mất mát lớn lao đó trong đời. Tuy chưa hiểu rõ lắm về nỗi chết nhưng tôi cảm nhận ra sự bơ vơ, lạc lõng vì từ nay sẽ không còn hưởng được tấm tình yêu thưong ấm áp của người đã nuôi dưỡng tôi suốt một thời thơ ấu.