4- HKMT: Vào trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định (1973-1974)

Phạm Thế Trung

… Bọn chúng tôi đến từ nhiều tỉnh lẻ, như Đặng văn Long từ Bến Tre, La Toàn Vinh, Nguyễn văn Thành và Phạm văn Lơ từ Bình Dương, Nguyễn văn Ngữ và tôi từ Biên Hoà, kết thân với nhau để mướn chung một nhà trọ vừa thuận tiện có bạn bè vừa chia tiền thuê nhà cho rẻ. Gác trọ đầu tiên của chúng tôi là một căn nhà sàn trong con hẻm nhỏ ở Ngã Ba Hàng Xanh, nơi đó mỗi sáng mỗi chiều chúng tôi hít thở mùi tanh của rác rưởi và mọi thứ dơ bẩn xông lên từ dưới rãnh của con sông Sài Gòn. Nơi đó cũng là nơi chúng tôi tập uống cafe, tập hút thuốc lá, vẽ vời liên miên và mộng mơ thành … Nghệ Sĩ lớn!
Mỗi ngày đi học tôi đều chở Vinh trên chiếc xe đạp cuộc cũ kỹ, Vinh ngồi chéo chân trên thành ngang phía trước, tôi thở phì phò đạp cho tới khi xe lên dốc gần Long Vân Tự trên đường Bạch Đằng là Vinh phải nhảy xuống đi bộ. Tôi tiếp tục đạp ngang chợ Bà Chiểu, Lăng Ông, rồi bên hông Bưu Điện là tới trường QGTTMT.
Tôi được học môn chánh với các Họa sĩ nổi tiếng như Thầy Tú Duyên, Hiếu Đệ, Nguyễn Minh Hoàng và Cô Nguyễn thị Chín. Riêng môn điêu khắc là một môn phụ do thầy Nguyễn Tấn Lực dạy nhưng tôi lại say mê nhứt. Ngày đó, điều làm tôi vui vui là được bầu làm trưởng lớp, dù chỉ để làm chức vụ là lên văn phòng lãnh giấy vẽ về phát cho cả lớp và ghi phiếu điểm danh mỗi sáng.
cothinh-2Cô Chín (đứng ngoài cùng bên phải) dạy môn phỏng họa người mẫu là môn căn bản rất quan trọng cho một họa sĩ tương lai. Cô dáng người thanh thanh, khuôn mặt vuông, mảnh mai và nghiêm nghị, luôn luôn mặc áo dài mỗi lần đến lớp, cầm sẵn trong tay một cây viết chì đen để sửa bài phỏng họa người mẫu cho các học sinh trong lớp. Cô đứng trước người mẫu, giảng nghĩa kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào để vẽ một hình người mẫu thực thụ.
ThầyTú Duyên dạy môn Thủ ấn họa khắc trên gỗ thành những bức mộc bản và sau đó dùng tay ấn dậm màu trên gìấy in ra thành tranh từ bản gỗ. Thầy Hiếu Đệ dạy minh hoạ theo đề tài từ một câu chuyện kể hoặc một bài thơ hay, và xa hơn nữa là vẽ lại những chuyện kể bằng tranh qua lịch sử nước nhà. Thầy Nguyễn Minh Hoàng dạy vẽ tranh quảng cáo như du lịch hoặc thương maị cho một công ty hay quảng cáo một món hàng mới nào đó cần được thị trường biết đến. Đây là một môn đi vào thực tế của cuộc sống hàng ngày, nhất là những dịch vụ thương mại của thành phố Sài Gòn rất thịnh hành lúc bấy gìờ.

Nhớ lại chữ A đầu lòng được học ở trường làng Long Cang thuở ấu thơ, nay bước vào đời tôi được các Thầy Cô, những người mang hết những tinh anh, những kinh nghiệm lâu đời về nghệ thuật, đang nắn nót bàn tay tôi và hướng dẫn thế nào để tạo ra những tác phẩm có hồn, lòng tôi cũng lan man nhiều điều xúc động!
Thầy Tú Duyên người luôn tận tuỵ trau chuốt, uốn nắn từng nét vẽ, Cô Chín sửa chữa thành những đường cong mềm mại vệt sáng, bóng tối, đậm nhạt qua những bài của tôi vẽ người mẫu trên tờ giấy báo màu vàng nhạt. Thầy Hiếu Đệ biểu diễn rất đa dạng với bọn chúng tôi qua cách thức làm thế nào để vẽ một bức tranh minh hoạ, liền sau đó thầy vẽ ngay nét một không rời thành dáng Thúy Kiều ngồi gảy đàn tỳ bà trông rất quí phái và lả lướt mà tôi còn nhớ mãi.
Thầy Nguyễn Minh Hoàng dẫn cả bọn chúng tôi đi vẽ thực tập ngoài trời. Thầy hướng dẫn cách nhìn cho linh động một vật thể, một phong cảnh, cách điểm tô một chùm hoa nở, một tàu lá úa, cách tạo ra sắc thái cho một cảnh nhà ven sông ở Cầu Sơn, Bình Triệu. Tôi còn nhớ có lần Thầy Hoàng dẫn bọn tôi vào sở thú Sài Gòn để vẽ chim chóc và thú vật và vẽ khảo cổ các hoa văn rồng phượng ở đền kỷ niệm và viện bảo tàng. Lúc nghỉ ăn trưa, thầy có mua cho cả bọn chúng tôi mỗi đứa một cây cà rem.hsTuDuyen-1

Niên khóa 1973-1974 là năm của chiến tranh bộc phát dữ dội sau mùa hè đỏ lửa. Khắp bốn vùng chiến thuật, quân đội VNCH đang phải đương đầu với những trận đánh khốc liệt đầy quyết tử. Mỗi sáng trên đường tới trường chúng tôi đều chứng kiến cảnh xe nhà binh chạy trong thành phố tung khói mịt mù hoặc những cảnh đám tang trên đầu xe có ảnh người quân nhân mặc đồ lính trận với hàng người dài lê thê khóc than thảm thiết. Tôi biết đó là tiếng khóc oán than của những bà Mẹ mất con, vợ mất chồng hoặc của đàn con dại réo rắt khóc Cha … Tôi hiểu rất rõ đất nước tôi đang trong cảnh binh lửa hoang tàn khắp nơi khắp chốn. Nhưng cũng như những bạn bè còn lại, tôi chỉ còn biết thầm cám ơn những người đã hy sinh bảo vệ đất nước để chúng tôi được an toàn ngồi lại dưới mái trường.
Lớp học chúng tôi có tất cả 7 học viên gồm: Lưu Khải, Huỳnh Thế Lộc, La Vĩnh Mậu, Võ Thành Cuới, Lê Tấn Hạnh, Nguyễn Thành Long và Phạm Thế Trung được tuyển chọn qua ngành ấn loát gọi là ban Thiết Ấn. Lớp của 7 đứa chúng tôi nằm sát vách với lớp thuộc ban Kiến Trúc. Tôi ngạc nhiên khi làm trưởng lớp mà chỉ có 7 học viên, chưa bao giờ tôi thấy một lớp chuyên môn nào tuyển chọn để đào tạo lại ít học viên như thế. Chúng tôi được nhà trường sắp xếp cho mỗi học viên một bàn vẽ có nắp đậy mở lên và sập xuống với một chiếc ghế đẩu màu nâu sậm. Tôi đoán đây là thiết kế từ thời Pháp xa xưa nay vẫn còn lại.
Trong lớp tôi chơi thân với Long đen, còn gọi là Long Hynos. Hắn có khuôn mặt mũm mĩm, nước da đen bóng, kèm với đôi mắt có mí lót ti hí. Khi nói chuyện, Long luôn cười rất lớn và pha trò luôn miệng. Chơi thân một thời gian với Long Hynos mới biết anh là con của cặp vợ chồng nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) và Kim Cúc bên ngành cải luơng, kịch nghệ và điện ảnh. Tôi còn nhớ, lần Long dẫn tôi đến nhà chơi cho biết, tôi có hân hạnh gặp bác Năm Châu và cô Kim Cúc lần đầu. Bác nhìn tôi một hồi, vỗ vỗ vai tôi ra chiều đắc ý và nói: “Cao ráo như con nếu thử đi vào ngành kịch nghệ chắc cũng được lắm.“ Đó là lời bác Năm nói với Cô Kim Cúc lúc đó, lời nói như một khuyến khích đã làm tôi vui tới tận bây giờ. Nhớ có lần Long chở tôi lên chiếc xe PC, Long nhờ tôi cầm giùm một miếng thiếc dài, có độ cong uốn qua uốn lại chở đến Hãng Mỹ Vân Phim để nhân viên phim trường tạo ra âm thanh của tiếng sóng gào trong một chuyện phim về biển cả. Hãng phim Mỹ Vân nằm trên đường Phan Thanh Giản gần góc Tú Xương và tôi còn nhớ đây là lần đầu tiên tôi được thấy và biết qua phim trường điện ảnh Sài Gòn.
Như tất cả mọi lớp học, lớp tôi không thể thiếu tấm bảng đen và một bàn giấy bên cạnh. Mỗi lần chúng tôi học môn Cơ thể học (Anatomy) thì thầyTrần Văn Chơn vẽ lên bảng nhiều hình cơ bắp và tứ chi ngũ quan của cơ thể con người. Thầy trình bày thật cân đối hài hoà và dẫn giải cho chúng tôi từng chi tiết một. Nhìn bàn tay Thầy Chơn vẽ bằng phấn màu như tả chân từng phần một, bọn chúng tôi chăm chú và thán phục vô cùng nét vẽ lả lướt tuyệt đẹp của Thầy.

QGCDMT-005

Riêng các môn trang trí và in ấn, chúng tôi được qua nhập chung với các lớp khác để cùng nghe thầy giảng dạy về lý thuyết, lớp học rộn ràng hơn vì có thêm một số bạn khác lớp, nhất là với vài ba cô nữ sinh. Đến giờ học với họa sĩ Tú Duyên, chúng tôi rất thích vì thầy lúc nào cũng vừa dạy học vừa kể chuyện cuộc đời của thầy thăng trầm qua nhiều giai đoạn. Trong đó, chi tiết thú vị nhất Thầy kể là lúc di cư vào Nam sau 1954, Thầy phiêu lưu xuống tận Bạc Liêu rồi qua Long Xuyên để vẽ tranh trang trí. Thời đó dân miền Nam nghèo nhưng vẫn thích có gì đó để trang trí trên vách gỗ, vách đan tre cho sáng nhà sáng cửa, họ dán nhiều trang báo màu mè sặc sỡ hình của những ca sĩ tân nhạc, cải lương hoặc vài tấm tranh in “Sự tích trầu cau” hay “Thạch Sanh Lý Thông”. Riêng tranh của họa sĩ Tú Duyên chỉ có những tay điền chủ giàu có mới có thể mua vì nhà cửa của họ rất lớn và họ cũng chuộng tranh vẽ của Thầy. May mắn thay! Thầy cũng xoay sở được cuộc sống tạm đủ lúc ban đầu khi mới di cư vào Nam, một vùng lạ đất, lạ người.
Khi vẽ, thầy Tú Duyên nghiêng nghiêng gương mặt, đôi mắt rất đam mê xuyên qua cặp mắt kiếng trắng trễ xuống tận hai cánh mũi. Lúc nào thầy cũng phì phà điếu thuốc lá trên môi, hết điếu nầy tới điếu khác hầu như không ngừng. Thường thường khi hết thuốc lá bất ngờ, thầy sai tôi là trưởng lớp ra ngoài quán cafe gần bưu điện mua giùm thầy một gói thuốc lá Bastos xanh. Còn nhớ một hôm tôi có sáng kiến nói với các bạn trong lớp là gom tiền lại của 7 đứa mua một gói thuốc lá làm quà cho thầy. Chúng tôi đưa tận tay Thầy Tú Duyên. Thầy không nói gì, chỉ mỉm cười, nhưng chúng tôi biết thầy đang cảm động.
Lớp điêu khắc do thầy Nguyễn Tấn Lực phụ trách. Thầy là sĩ quan ngành tâm lý chiến Quân Lực VNCH, đôi khi thầy đến lớp với bộ đồ lính có gắn bông mai trên bâu áo chỉnh tề trông rất oai phong. Nhà trường lấy nhà kho gần cửa sau lối đi tắt ra bưu điện để làm lớp điêu khắc cho ban Thiết Ấn. Những giờ thực tập, thầy Lực thường ra đề tài như làm một vật thể tĩnh vật hoặc sao chép lại một tượng chân dung bằng thạch cao với hình mẫu trước mắt. Đôi khi thầy cho chúng tôi sao lại những tượng cổ Hy Lạp, đầu tượng Phật, tượng Chàm hoặc Đế Thiên Đế Thích.
PTT-03Ngày tháng trôi qua, tôi đã quen dần với không khí nhà trường, những bỡ ngỡ, lo lắng ban đầu không còn nữa. Chúng tôi vẫn được bình an ngồi dưới mái trường tuy nhỏ hẹp nhưng ấm áp đầy tình thương yêu của các Thầy Cô. Trong khi đó chúng tôi vẫn nghe tiếng của những xe nhà binh rì rầm rền rĩ chạy trên đường phía trước hướng về Tân Sơn Nhất.
Mỗi tối, Vinh, Lơ và tôi đi học thêm phần văn hóa tư thục để lấy chứng chỉ lớp 11 phổ thông, lúc này bằng Tú Tài 1 đã bỏ, chúng tôi dự định năm sau sẽ thi qua Cao Đẳng nên lo chuẩn bị trước để khi kỳ thi tuyển bắt đầu thì chúng tôi sẽ sẵn sàng.

Lệnh đôn quân đã thi hành, tất cả học sinh sinh viên phải học quân sự và nếu trong tình trạng học sinh nào yếu kém hoặc điểm thi không đủ, hoặc thi rớt thì sẽ phải lên đường nhập ngũ. Là trưởng lớp nên tôi lên văn phòng để lấy những quyết định tổng động viên, và thông báo của nhà trường về đọc cho cả lớp cùng nghe. Chúng tôi nghe thông báo với chung một tâm trạng hoang mang và lo lắng. Rồi cuối năm đó, trước khi mãn niên học, nhà trường có phần lễ phát thuởng cho học sinh giỏi ưu tú, tôi được các thầy cô trong lớp chọn lên lãnh phần thưởng, tuy món quà nhỏ nhoi trong thời chiến tranh nhưng dưới mái trường mang tên mới là Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định. Lúc đó, ông hiệu trưởng mới nhậm chức là hoạ sĩ Trương văn Ý. Ông vừa được Bộ giáo dục và Nha Mỹ thuật bổ nhiệm. Kể từ nay, ngôi trường “Trung học Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định” do người Pháp ra đi để lại đã mang tên mới làm tôi rất hân hoan và hãnh diện. Thầy Trần văn Chơn đã trao phần thưởng này cho tôi, đó là một quyển sách nghệ thuật tạo hình cơ thể học bằng tìếng Anh trông rất đẹp và quý giá.
Rời lớp Thiết Ấn năm đó là năm 1974, tôi dùng chứng chỉ lớp đêm của trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định để thi nhảy qua Cao đẳng. Riêng phần tôi là một ngoại lệ vì tôi chưa học xong lớp cuối của chương trình hệ trung cấp.
Khi trường QGCĐMT ra thông cáo về ngày tháng cho cuộc thi tuyển các bạn cùng nộp đơn, có Đặng văn Long, Vinh và tôi trong nhóm trọ nhà học chung và nhiều bạn khác bên khoa trang trí cũng nộp đơn thi. Đồng thời các lớp phổ thông ở ngoài cũng có nhiều thí sinh nạp đơn tham dự vào kỳ thi tuyển này. Vì quá đông nên tình hình trở thành rất khó khăn; luật chấm thi và thu nhận vô trường có phần gắt gao hơn trước kia! Tuy chúng tôi đã có cơ bản về chuyên môn trong ngành bên trường trang trí nhưng cũng rất phập phồng lo sợ vì ban giám khảo mọi kỳ thi chỉ chọn mốt số rất ít có giới hạn trong tổng số dự thi quá đông, gấp cả 10 lần hơn cho niên khoá nầy.

HKMT-17Thời gian thi lên Cao Đẳng kéo dài suốt cả tuần lễ với mọi bài vở, hệ số, vẽ vời đầy rắc rối và phức tạp. Trong những giờ nghỉ chúng tôi có gặp lại các Thầy giám thị coi phòng thi bên trường Cao đẳng như Thầy Nguyễn Văn Bảy, Thầy Lê Minh Ngữ, đặc biệt là Thầy Hiếu Đệ vẫn cố hữu với nụ cười đầy lạc quan, Thầy trấn an: “Tụi bây sẽ đậu hết qua Cao Đẳng, ráng lên đi, đừng lo.“ lời Thầy nói như ly nước mát trong mùa hè nắng cháy, quả tình đã làm cho bọn chúng tôi yên tâm hơn. Thời gian đợi chờ kết quả sau khi thi thật dài và đầy hồi hộp.
Sau khi thi xong, Đặng văn Long ở lại nhà trọ, riêng tôi quay trở về Biên Hoà.
Bỗng một chiều có mưa to gió lớn, tôi ngồi ngó mong ra cây mận đang ngả nghiêng trong gió truớc sân nhà của anh chị tôi. Bất ngờ tôi thấy Long chạy vội vô sân, tóc tai ướt đẫm. Thì ra Long đón xe đò lên tận nhà ở Tân Vạn báo tin vui là tôi và Long đều có tên trúng tuyển.
Lòng mừng và cảm động vô cùng với công khó của bạn, tôi tay bắt mặt mừng rủ Long xuống lại trường ngay lập tức. Tôi mang cảm giác là mình không còn có thể chờ đợi thêm một giây phút nào nữa! Và chúng tôi đã đứng ngẩn ngơ, ráo riết nhìn lên bảng phía trước văn phòng, tôi chỉ tìm để thấy tên của chính mình, thấy rất rõ để xác nhận một sự thật, một niềm mơ ước mà sâu xa trong lòng tôi rất sợ bị hụt hẫng!
Sau đó tôi mời Long ra chợ Bà Chiểu ăn một bữa cơm để mừng ngày chúng tôi thêm một bước nữa của thành công…