HKMT: Thầy Tôi, Điêu Khắc Gia Lê Văn Mậu (1917-2003)

DKGLeVanMau-1

 

Phạm thế Trung

Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước thành 2 miền Nam Bắc với vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Lúc bấy giờ, chính phủ miền Nam do Ông Ngô đình Diệm được trưng cầu dân ý để bầu làm Tổng Thống VNCH và thành lập một chính phủ hợp pháp và hợp hiến theo một thể chế tự do dân chủ và có nền lập pháp và tư pháp hẳn hòi.

Về mặt văn hoá và giáo dục phải kể đến là Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định được lập nên sau khi Tổng Thống Ngô đình Diệm lên chấp chánh. Người Pháp đã ra đi, để lại cho miền nam VN lúc bấy giờ một cơ sở giáo dục chuyên môn giá trị là Trường Mỹ Nghệ Biên Hoà, Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia định (sau này là trường Quốc gia Trang trí Mỹ Thuật- Gia Định) cũng do người Pháp lập nên.

Như đã nói ở trên, những sinh viên miền Nam đi ra Bắc du học trước năm 1954, sau khi tốt nghiệp có kẻ ở lại miền Bắc, có người theo đoàn tàu xuôi về quê hương miền Nam để phục vụ với chính phủ VNCH.

Trong ngành mỹ thuật phải nói và kể đến là Điêu khắc gia Lê văn Mậu, người đã tốt nghiệp trường Cao đẵng Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội. Sẵn viết đến đây, tôi xin được nói đến một người thầy khả kính mà tôi hân hạnh được thọ giáo trong những năm tôi còn ngồi dưới mái trường thân yêu với nhiều kỷ niệm.. trước khi tôi rời quê hương ra đi cho đến nay.

Thầy Lê văn Mậu quê quán ở Vĩnh Long, sinh sống và làm việc tại thành phố Biên Hòa, từng làm hiệu trưởng Trường Mỹ Nghệ Biên Hoà trong nhiều năm và ông là một giáo chức gương mẫu dưới thời đệ nhất Cộng Hoà miền Nam VN. Ông cũng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như làm giám khảo cho bộ môn điêu khắc giải văn học nghê thuật toàn quốc thời đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, làm giám khảo cho nhiều kỳ thi tốt nghiệp và các kỳ thi tuyển vào các trường như Mỹ Nghệ Biên Hoà, Bình Dương và trường Mỹ Thuật Gia Định. Có thể nói thầy Lê văn Mậu gắn bó nhất là trường Mỹ Nghệ Biên Hoà mà không một ai thời bấy giờ không nghe danh thầy Lê văn Mậu vì nơi đây đã đào tạo biết bao nghệ nhân nổi tiếng qua ngành gốm mỹ nghệ Biên Hoà- Đồng Nai rất phát triển cho khắp cả miền Nam và Đông Nam Á.

Hôm nay ngồi xưống đây tôi viết lại những dòng này để tưởng nhớ đến một vị thầy khả kính mà cá nhân tôi đã được học hỏi rất nhiểu những chỉ giáo của thầy trong lãnh vực chuyên môn cũng như chia sẻ vốn sống trên đường đời làm nghệ thuật mà thầy đã trải qua và nhiều lần nhắc đến…DKGLeVanMau-3

Thầy giáo Lê văn Mậu lúc nào cũng đạo mạo nghiêm trang qua bộ âu phục chỉnh tề với sơ mi trắng quần tây trong dây thắt lưng và luôn có cặp táp trong tay mỗi lấn đến lớp (studio) của từng lớp học. Đặc biệt thầy giảng dạy về người mẫu rất kỹ lưỡng. Thầy nói huyên thuyên trong lúc hướng dẫn có thể như muốn truyền đạt lại tất cả mọi sự hiểu biết của mình đến từng sinh viên.

Tôi có dịp nghe thầy kể về miền Bắc VN lúc thầy du học tại Hà Nội vào trước năm 1954 mà tôi chưa có lần đến đó bao gìờ.. duy chỉ được nghe và đọc qua sách vở…

Tôi đã có dịp đến thăm thầy tại nhà riêng ở thành phố Biên Hoà. Tôi còn nhớ nhà thầy ở cách không xa trường Mỹ Nghệ Biên Hoà cho lắm. Lúc bấy gìờ dân cư còn thưa thớt xe cộ qua lại cũng không đông đảo. Sống trong hoàn cảnh đất nước khó khăn nên chuyện đi lại rất là hạn chế. Đó là những năm 1976-1977.

Tôi có dịp gặp và được thầy giới thiệu người hiền thê của thầy với đầy hãnh diện và cũng không quên đem ra một chân dung nhỏ được thầy cảm hứng cho ra đời, đúc bằng đồng trông rất đẹp yêu kiều của một người phụ nữ miền Nam mà tôi đoán ra là chân dung của.. Tôi chưa kịp hỏi thì Thầy Mậu đã nói ngay “Đây là hoàng hậu Nam Phương của thầy”. Tôi chăm chú nhìn xem và rất làm thú vị và thán phục…

Nhà thầy nằm ngay mặt tiền trên đường chánh, phía trước có lối đi cho người qua lại trên vỉa hè, bước vào bên trái là một tủ kính lớn dùng để trưng bày các sáng tác của thầy, đây là một số mô hình (maquette) có những tượng thầy đã làm từ xưa mà tôi chưa hề thấy như tượng vua Quang Trung cưỡi ngựa dựa theo bản vẽ trong sách sử của nhà Mãn Thanh, tượng Vua Lê Lợi cưỡi ngựa tay vung kiếm dưới dạng mô hình cỡ nhỏ được đúc bằng đồng, không biết bây giờ những tượng ấy lưu lạc phương nào.

Bên phải là phòng lớn có một bàn giấy để tiếp khách. Phía sau 2 bên vách tường thầy trưng bày một số tượng, bản chánh bằng thạch cao được sơn màu giả đồng nâu sẫm, kích thước bằng người thật, đã được nhiều người biết đến như tượng Phan đình Phùng đã đúc đồng dựng tại trước Bưu Điên Chợ Lớn, tượng Nguyễn Trung Trực trước chợ Rạch Giá, tượng Trương Công Định ở Gò Công.

Tôi được thầy nói về lai lịch, thời gian ra đời qua những tác phẩm vừa kể, lòng tôi dâng lên một niềm cảm xúc và ngưỡng mộ. Thầy kể chuyện rất nhiều về những sinh hoạt ngày xưa mà thầy còn cất rất kỹ trong bộ album. Thầy lật mở từng trang có hình ảnh của những bức tượng chân dung cho tôi xem khiến tôi như thấy ngay trước mắt. Đó là những nhân vật rất nổi tiếng tại thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ…

Thầy nói chuyện rất nhiều và kể cho tôi nghe như nỗi niềm tâm sự riêng. Thầy có nói và nhắc đến một số hình kỷ niệm qua hình ảnh chụp tại Hà Nội trong lúc thầy còn đi học vào những năm trước 1954. Thầy mang ra cho tôi xem toàn bộ các bản vẽ sơ đồ kiến trúc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà VNCH mà thầy còn cất giữ, một công trình to tác nhưng đã bỏ dở vì lịch sử đã sang trang..

Lòng tôi tò mò và như muốn học hỏi nơi thầy Mậu là “Thầy làm thế nào để có những tượng đúc đồng và ở đâu?”… “Cũng tại đây, Biên Hoà mình đây”, thầy đáp nhanh cho tôi như vậy.. Liền theo đó thầy kể thêm tên một số nghệ nhân xuất xứ từ Cù Lao Phố, sinh sống trong khu gần đền Cụ Nguyễn Hữu Cảnh. Đó là một số nghệ nhân đã có biết kỹ thuật đúc đồng theo phương pháp cổ truyền từ xa xưa..

Trong khoảnh khắc nào đó tôi bâng khuâng nhớ về người thầy cũ lòng dâng tràn lên bao cảm xúc nhớ về quá khứ một thời, như một dòng nước chảy qua đi..!

Phạm thế Trung, Canada

Phụ bản:

Tìm Lại Tác Giả Những Bức Phù Điêu Chợ Bến Thành 

Bài và ảnh: Nguyễn Minh Anh (Cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai)

http://dongnai.vncgarden.com/cam-nhan/timlaitacgiaphudieuchobenthanh

 

Nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước. Theo dòng thời gian, kiến trúc của chợ Bến Thành có nhiều thay đổi. Tuy thế, dáng vẻ và phần đầu của mặt tiền chợ vẫn giữ được như xưa. Trong lòng nhiều thế hệ, chợ như là một biểu tượng của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh cho dù điều đó chưa được chính thức công nhận.
Quen thuộc là vậy, có thể nhiều người quan sát thấy những bức phù điêu trang trí chợ Bến Thành với hình con bò, con cá đuối, nải chuối…
Nhưng có lẽ, ít người biết tác giả của những bức phù điêu đó là ai?

LeVanMau-07

Tìm lại người xưa

Trong quá trình tìm về lịch sử trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cũng như dòng gốm Biên Hòa xưa. Tôi cũng may mắn tìm gặp lại được hai nghệ nhân gốm Biên Hòa, những người đã trực tiếp gắn những bức phù điêu ở chợ Bến Thành năm xưa.
Mùa hè năm 2007, qua lời giới thiệu của một chị làm trong ngành gốm, tôi được gặp ông Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng), một nghệ nhân gốm Biên Hòa xưa, hiện sống tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa. Qua vài lời nói chuyện làm quen. Tôi liền hỏi ông ngay: “Cháu nghe nói trường mình, trường Mỹ nghệ Biên Hòa, ngày xưa có làm phù điêu trang trí cho chợ Bến Thành?”. Ông Tư Dạng trả lời ngay: “Đúng, làm năm 1952, mẫu là sáng tác của ông Mậu; tôi và một người bạn là hai người trực tiếp lên Sài Gòn gắn những bức phù điêu đó”.

LeVanMau-08Hình bên: Nguyễn Trí Dạng (trái) và Võ Ngọc Hảo, hai nghệ nhân đã trực tiếp gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành của ĐKG Lê Văn Mậu

Được gợi về những năm tháng xa xưa, ông hào hứng kể lại vô số chuyện cũ. Chuyện về những người thầy, những thợ bạn và những sản phẩm gốm Biên Hòa xưa. Đó là những chuyện không xưa lắm, nhưng lớp trẻ ngày nay khó hình dung về một ngôi trường nổi tiếng một thời với dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm mỹ nghệ, nên từ rất nhỏ ông đã có dịp tiếp xúc với những người nghệ nhân của trường Bá nghệ, càng quan sát ông càng đam mê những đất, men. Năm 14 tuổi, ông vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa, sau 4 năm học tập, ông tốt nghiệp năm 1950, và cũng là khóa học trò cuối cùng của trường dưới sự điều hành của ông bà Balick. Sau khi ra trường, ông làm việc liên tục tại Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi được tuyển vào trường Kỹ thuật Biên Hòa, năm 1966, để làm thầy dạy ban gốm của trường. Cả đời ông gắn liền với nghề gốm, hiện nay ở tuổi 76, ông vẫn làm những sản phẩm gốm cho những đơn hàng nhỏ, lẻ.
Gặp được người nghệ nhân thứ nhất, tôi tiếp tục đi tìm người nghệ nhân thứ hai đã tham gia gắn những bức phù điêu đó. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, cùng với sự   hướng dẫn chỉ đường của ông Tư Dạng, tôi cũng tìm được người nghệ nhân này, gặp được ông tại Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào một ngày trung tuần tháng 10. Ông là Võ Ngọc Hảo, sinh năm 1932 tại Tân Thành, Biên Hòa. Vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa năm 1945, sau bốn năm học tập, ông tốt nghiệp ban gốm của trường vào ngày 11.07.1949. Sau khi tốt nghiệp, ông ra làm thợ cho Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa đến năm 1961, sau đó ông làm cho công ty cấp nước thành phố đến khi nghỉ hưu. Hiện nay, ông sống tại Bình Lục, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Tại Cù Lao Phố, vào một ngày tháng 10.2007, hai người nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa năm nào, sau nhiều năm xa cách, ngày nào lên gắn những phù điêu tóc hãy còn xanh nay mái đầu đã bạc. Gặp lại, hai ông ôn lại những kỷ niệm năm xưa về mái trường Mỹ nghệ, nay chỉ còn trong ký ức. Và nhớ lại những ngày đi gắn những bức phù điêu, đó là những kỷ niệm không thể nào quên. Người viết bài này được phép ngồi cạnh hai vị nghệ nhân, dịp này xin thuật lại đôi điều về những ký ức đó!

Ký ức còn lại

LeVanMau-09

Phù điêu hình bò và heo (cửa Đông)

Tôi đọc được một trang nhật ký của một nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa ghi: “Ngày 1.9 (âm lịch) mưa cả ngày. Qua ngày 2.9 nước lên lẹ cấp kỳ. Nước xuống lần cho tới ngày 17.9. Đâu về đó”. Đó là những dòng chữ ghi lại nhật ký trận lũ lịch sử Nhâm Thìn (1952) tại Biên Hòa.

 

LeVanMau-11

Phù điêu hình bò và vịt (cửa Đông)

Sau trận lũ lụt Nhâm Thìn, ba ông Phạm Văn Ngà (Ba Ngà), Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng) và Võ Ngọc Hảo được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cử lên Sài Gòn để gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành. Những bức phù điêu này được nhà thầu chợ Bến Thành đặt trường Mỹ nghệ Biên Hòa làm. Thầy Lê Văn Mậu được giao sáng tác theo đơn đặt hàng, được sự giúp của những người thầy và những nghệ nhân lành nghề bên Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa như: Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng, chủ Thạch, anh Tóc… Thầy Lê Văn Mậu sáng tác trực tiếp lên đất, sau đó chỉnh sửa với sự góp ý của những người nghệ nhân. Rồi những bức phù điêu đó, nhằm để tránh những sự vênh méo ở những sản phẩm có độ nung cao như gốm Biên Hòa, chúng được cắt ra theo từng miếng nhỏ riêng, để đem mang đi chấm men, đi nung. Lò đốt bằng củi thỉnh thoảng gây “hỏa biến” ở những đồ gốm, đặc biệt có ở những bức phù điêu chợ Bến Thành những màu men trắng ta, trắng ngà ngà vàng mỡ gà rất đẹp, rất hiếm gặp. Do những miếng nhỏ của những bức phù điêu được đặt ở nhiệt độ không đều nhau, tuy trong cùng một lò nung, nên khi ra lò nó có miếng màu nhạt, màu đậm là vậy.

LeVanMau-02

Phù điêu hình cá đuối và nải chuối (cửa Tây)

Trước khi đóng thùng mang lên Sài Gòn bằng những chiếc xe công nhông. Những mẫu gốm của phù điêu chợ Bến Thành được mang từ trường trong (ngày nay là địa điểm trường CĐ Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) ra sắp ngoài trường ngoài (ngày nay là địa điểm trụ sở UBND tỉnh Đồng Nai), bởi lò nung gốm được đặt ở trường trong. Những mẫu gốm của phù điêu được đem sắp ngay chỗ cột cờ, chỗ văn phòng thầy Mã Phiếu (trưởng phòng hành chánh trường Mỹ nghệ Biên Hòa) bước ra, sắp ra ở đó. Thầy Lê Văn Mậu, chắp tay sau lưng, đi qua đi lại coi xem tấm nào bị vênh mới cho đục sau lưng cho nó mỏng để cho nó bằng. Xong xuôi đâu đó mới xếp vào thùng chuyển lên Sài Gòn. Rồi xuống dưới đó, chợ Bến Thành, nhà thầu khi họ xây dựng họ chừa lại những mảng tường cho mình để gắn những phù điêu. Và họ cũng làm sẵn cho mình những giàn giáo, những cô công nhân trộn cho những hồ vữa sẵn để mình chỉ tập trung gắn những phù điêu. Ông Phạm Văn Ngà, người thợ cả chỉ đạo gắn những bức phù điêu cho hai người thợ trẻ, ông Tư Dạng và Hảo, làm những công việc cần làm để gắn những bức phù điêu lên. Từng tấm, từng tấm, gắn từ những tấm ở dưới trước rồi dùng những cây chỏi để giữ cho nó gắn chặt với hồ vữa, đến khi hoàn thành một bức phù điêu, kiểm tra lại xem chỗ nào còn hở thì trét hồ cho kín. Nhìn thấy công việc cũng không khó khăn lắm, cộng với nhiều công việc đang đợi mình ở Biên Hòa, nên ông Ba Ngà về trước, để lại những tấm phù điêu đó cho hai người thợ trẻ tiếp tục công việc.

LeVanMau-03

Phù điêu hình bò và cá (cửa Nam)

“Những thuận lợi ban đầu, khi ở Sài Gòn họ tạo điều kiện cho mình, nhưng bên cạnh đó gặp cũng không ít khó khăn. Ở cái cửa chính kế ga xe lửa, chỗ này về khuya cá biển về họ mần rầm rầm hơi bốc lên hôi tanh, muốn ói vậy, trong khi đó mình phải ngủ trên… những chiếc đồng hồ nơi cửa chính này. Ban ngày thì nắng chang chang, sáng có sương mù tối đến mưa phùn, những giấc ngủ lạnh buốt là thế nhưng những người nghệ nhân Biên Hòa này luôn cố gắng để hoàn thành công việc được giao…” Theo trí nhớ của hai nghệ nhân gốm, thì :”thời gian hoàn thành 12 bức phù điêu cho bốn cửa của chợ Bến Thành khoảng hai tháng trở lại chứ không có hơn, cũng mau lắm!”

LeVanMau-10

Phù điêu hình vịt (cửa Bắc)

Khi những bức phù điêu đã tương đối hoàn tất thì người thợ cả Ba Ngà xuống xem, chỉnh sửa lại đôi chỗ còn thiếu sót. Hai người thợ trẻ hoàn thành công việc được giao, họ phấn khởi, đó là những kỷ niệm một thời nay khó phai mờ trong ký ức!

Điêu Khắc Gia Lê Văn Mậu – tác giả những bức phù điêu

DKGLeVanMau-3

Đoàn Trường Kỹ thuật Biên Hòa tham dự khóa hội thảo về giáo dục năm 1965 tại Sài Gòn (Lê văn Mậu đầu tiên, bên trái)

Lê Văn Mậu (1917 – 2003) là một nhà giáo nhân hậu và một điêu khắc gia tài hoa. Sinh năm 1917 tại Vĩnh Long. Năm 1930, lên Sài Gòn ở nhà người cậu là bác sĩ Quế để học trung học. Sau khi đậu Diplôme vào năm 1934, Lê Văn Mậu lên Biên Hòa xin học điêu khắc trong dịp hè với ông Balick, hiệu trưởng trường Mỹ nghệ. Ông bà Balick là thân chủ bác sĩ Quế nên rất quí thầy và sắp xếp cho thầy ở Cù Lao Phố. Khi ông Balick hứa sẽ xin cho thầy học bổng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì thầy quyết định bỏ học ban tú tài mà theo học trường Mỹ nghệ. Trong thời gian học ở đây, những mẫu sáng tác của thầy được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa chọn để đưa vào sản xuất. Sau những năm tháng học tập, thầy đậu hạng nhất kì thi tốt nghiệp khóa ngày 2.7.1937.

Được ông Balick giới thiệu, cuối năm 1937, thầy đã vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không phải qua thi tuyển. Năm 1940, báo Pháp La Volonté Indochinoise nhận xét phê bình:
“Tác phẩm Đám rước của ông Mậu, do cách bố cục và sự tìm tòi trong cách thể hiện, đã báo hiệu một nghệ sĩ tài năng”. Sau nhiều trăn trở tính suy, mùa hè năm 1942, thầy quyết định thôi học một năm trước khi thi tốt nghiệp, ông hiệu trưởng E. Jonchère cho thầy một chứng chỉ với nhận xét rất tốt.
Theo thư mời của ông Balick, Lê Văn Mậu trở thành giáo viên dạy môn điêu khắc và môn vẽ cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa kể từ năm 1944, là người thế chân cho thầy Nhứt (Đặng Văn Quới) nghỉ hưu. Từ đó thầy gắn bó với trường Mỹ nghệ, với Biên Hòa tròn nửa thế kỷ. Cuộc đời nhà giáo của thầy phẳng lặng êm đềm. Năm 1963, thầy được cử làm hiệu trưởng trường Mỹ nghệ Biên Hòa, nhưng với tên mới là trường Kỹ thuật Biên Hòa.
Năm 1973, trường Kỹ thuật Biên Hòa có sự xáo trộn, thầy xin thôi chức hiệu trưởng và thầy thuyên chuyển về trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm giảng viên môn điêu khắc. Sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại trường cũ, nhưng có tên mới là ĐH Mỹ thuật Tp.HCM, cho đến khi nghỉ hưu.
Ông Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng nhận xét: “Ông là người thầy đã đóng góp nhiều công sức để đào tạo cho đội ngũ điêu khắc ở miền Nam trước và sau giải phóng”.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình thầy Lê Văn Mậu đã sáng tác hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ. Hiện nay được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Chỉ xin kể một số tác phẩm tiêu biểu của thầy: Đức mẹ Maria (1951, Nhà thờ Biên Hòa), Napoléon xem binh thư (1954, Pháp), Phật Thích Ca (1954, Chùa Xá Lợi), Bóng xế tà (1964, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), Đại thần Phan Thanh Giản (1964, Vĩnh Long), Tượng trưng tài nguyên và kinh tế Biên Hòa (1967), Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1968, đặt trước chợ Rạch Giá), Đài phun nước Cá hóa long (1968 – 1970, Công trường Sông Phố, Biên Hòa), Hùng Vương dựng nước (1989, Khách sạn Continental, Thành phố Hồ Chí Minh)… Thầy ba lần làm tượng VIP đáng nhớ: tượng Cựu hoàng Bảo Đại (1948), tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm (1959) và tượng Bà Sáu Thiệu (1970-1973). Và thầy đã sáng tác rất nhiều mẫu mã phục vụ cho những sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa.

Nguyễn Minh Anh